Lịch sử hoạt động
Thọ Xương
Theo các nhà nghiên cứu, địa danh Thọ Xương là tên cải đổi từ gò Long Thọ (Long Thọ Cương), tên chữ là Thọ Khương Thượng khố. Dưới thời các chúa Nguyễn, tại gò này nguyên là kho thóc, đến đời các vua Nguyễn là kho đồ gốm và cũng là nơi làm gạch ngói. Quốc sử triều Nguyễn từng xếp gò Long Thọ là thắng tích ở chốn kinh sư.
Cuốn “Sổ tay địa danh Việt Nam” của Đinh Xuân Vịnh ghi rằng, Thọ Xương (làng) trước gọi là Thọ Khang (Khương), vua Gia Long đổi tên thành Thọ Xương. Đến năm 1824 lại đổi thành Long Thọ, thuộc phủ Thừa Thiên cạnh sông Hương, nay thuộc thành phố Huế…
Xây dựng
Sau khi chiếm được Huế năm 1885, thực dân Pháp lựa chọn nơi này làm trung tâm cai trị và đẩy mạnh việc xây dựng các công trình cho chính quyền của họ. Do đó, năm 1896, công ty Bogaert khởi công xí nghiệp vôi nước Long Thọ ở chỗ gần đồi Long Thọ nhằm đáp ứng nhu cầu về vật liệu xây dựng tăng cao.
Cạnh tranh
Năm 1910, Rigaux - một nhà thầu xây dựng bất hợp pháp đã chiếm lấy một phần đất của Bogaert để cạnh tranh sản xuất vôi nước tại Long Thọ. Khâm sứ Trung kỳ đã bênh vực Rigaux trong cuộc tranh chấp này. Công ty vôi nước Long Thọ cũng liên minh với Rigaux và chính quyền thực dân để đối đầu với Bogaert. Họ đã gửi Rigaux làm người đàm phán với Bogaert để tranh giành quyền kiểm soát mỏ và thị trường Huế. Sau 5 năm đấu tranh, Bogaert đã thất bại trước Công ty vôi nước Long Thọ.
Ngừng hoạt động
Năm 1934, công ty vôi nước Long Thọ cử Gallois làm giám đốc nhà máy thay Rigaux. Sau khi Nhật đảo chính ngày 09/03/1945, Gallois - chủ nhà máy do Nhật giữ lại điều hành sản xuất cũng bỏ chạy, nhà máy ngưng trệ hoàn toàn đến tận 9 năm.
Sau 1954 hòa bình lập lại, người Pháp không còn khả năng duy trì được nữa. Từ năm 1958, nhà máy Long Thọ được giao cho ông chủ Viễn Đệ - một kỹ sư tốt nghiệp tại Pháp, quản lý nhưng cũng chỉ duy trì hoạt động sản xuất cầm chừng do chiến tranh, do ảnh hưởng của các cuộc chiến tranh giành quyền lực của các thể chế quân sự, chính trị miền nam lúc bấy giờ. Đến năm 1972 nhà máy lại một lần nữa ngừng hoạt động, trở thành hoang phế.
Hồi sinh
Sau chiến thắng 30/4/1975 chính quyền cách mạng thành lập Ban khôi phục nhà máy. Năm 1976, nhà máy khôi phục hoạt động trở lại với cơ sở vật chất chỉ là những đống đổ nát.
Năm 1977, nhà nước đầu tư xây dựng dây chuyền công nghệ xi măng lò đứng với công suất thiết kế 20.000 tấn/ năm. Sau nhiều năm cải tiến công nghệ, mở rộng sản xuất, công suất nhà máy không ngừng được nâng lên.
Thời hoàng kim
Tháng 09/1994 - 30/11/2005, tên gọi là Công ty SXKDVLXD Long Thọ.
Tháng 12/2005 chuyển đổi thành Công ty cổ phần Long Thọ, ngày càng chiếm được vị trí vững chắc trên thương trường. Hầu hết các sản phẩm đều được sản xuất trên dây chuyền công nghệ hiện đại, phân phối trải dài từ Quảng Bình đến Phú Yên, vùng Tây Nguyên và Miền Tây.
Di dời
Nhà máy xi măng Long Thọ phát triển công suất lẫn quy mô sản xuất cũng là lúc những vấn đề về môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng, ảnh hưởng dân cư xung quanh.
Đến những năm 2000, Nhà máy xi măng Long Thọ được xác định là “điểm đen” về môi trường, bị liệt vào danh sách các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng bắt buộc phải di dời theo Quyết định 64/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Năm 2003, Thủ tướng từng yêu cầu phải nhanh chóng di dời Nhà máy xi măng Long Thọ để đảm bảo quy hoạch đô thị và phát triển kinh tế du lịch địa phương.
UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã yêu cầu Công ty cổ phần Long Thọ phải di dời nhà máy ra khỏi TP. Huế từ năm 2010 và đặt hạn chót là tháng 06/2016. Tuy nhiên, đến tận tháng 04/2019, nhà máy vẫn tiếp tục hoạt động với các công việc như nghiền đá, nổ mìn khai thác đá…
Đầu tháng 04/2021, Công ty cổ phần Long Thọ hoàn thành công tác di dời nhà máy xi măng Long Thọ đến tọa lạc tại Cụm Công nghiệp Thủy Phương, phường Thủy Phương, thị xã Hương Thủy, Thừa Thiên Huế.
Là “ung bướu” phải cắt bỏ nhưng Nhà máy vôi thủy Long Thọ là công trình kinh tế đầu tiên mang dấu ấn “thuộc địa” trên đất Cố đô, ra đời cùng thời với Trường Quốc Học và trước Nhà máy nước Huế nhưng cách nhau 13 năm, được xem là một “nhân chứng” lịch sử của quá trình xây dựng và phát triển thành phố Huế, một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và du lịch của cả nước.
Đan Duy - Báo Thừa Thiên Huế điện tử
Phế tích
Long Thọ hôm nay
Nhà máy Long Thọ là một biểu tượng của lịch sử và công nghiệp Huế được thành lập vào năm 1896, trải qua nhiều thăng trầm trong 125 năm hoạt động. Ngày hôm nay là ngày cuối cùng của năm 2022, trong hành trình Du Huế 2023, Kin Kỳ cảm thấy tò mò và hồi hộp khi bước vào khu vực phế tích Long Thọ, nơi đã không còn sự sống động và nhộn nhịp của các máy móc và công nhân hơn một năm qua, tính từ thời điểm hoàn tất di dời.
Trời đất hoang vu chẳng bóng người,
Gió lay tường đổ, gạch ngói rơi.
Thời gian treo chết hơi thở đá,
Tịch liêu vồ ngậm dấu chân tươi.
Kin Kỳ
Nhà tập thể
Dãy nhà tập thể của nhà máy nằm ngay đường Bùi Thị Xuân. Phần trước của dãy nhà tuy rất cũ nhưng vẫn còn ở được khá, một số phòng có dấu hiệu của người ở lại, có lẽ để bảo vệ công trình. Tuy nhiên, phần sau của dãy nhà đã xuống cấp nặng nề, có thể nhìn thấy các lan can và cầu thang đã sụp đổ, gạch vữa vỡ mục, treo tòn ten có thể rơi xuống bất kỳ lúc nào.
Ngay phía trước khu tập thể chính là cái lò nung đã bị di dời ra đây. Tiếp cận cái lò nung, bên dưới được xây bằng gạch quét vôi vàng, phần vôi bị bon tróc, lên rêu xanh đen; bên trên lò có bồn sắt, được tiếp đất bằng một thang leo, tất cả đã hoen rỉ nặng nề.
Sảnh hội trường
Tháp lò nung cổ điển
Đây là dấu tích xưa cũ nhất của nhà máy vôi nước Long Thọ năm xưa. Lần cải tạo cuối cùng chính là giai đoạn phục hồi sản xuất sau 1975. Những tháp lò nung này mang tính biểu tượng lịch sử một thời của nền công nghiệp thực dân.
Nhìn độ hư hao, Kin Kỳ tin rằng, Long Thọ đã chuyển những lò nung này sang chế độ bảo trì từ lâu lắm rồi, chứ không phải mới bị hoang phế từ giai đoạn di dời.
Khu vực tháp lò nung cổ điển này được hạ giải không hoàn toàn, phần công trình còn lại là phế tích mục ruỗng, vỡ nát, rêu xanh ăn mòn. Do nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào, quanh khu vực tháp lò nung được xây dựng một bờ tường thành bao quanh bằng bê tông vô cùng kiên cố, ngăn chặn người khác ra vào. Qua nhiều năm khí hậu mát mẻ ẩm thấp xứ Huế, cây cỏ đã lan tỏa màu xanh sinh động, lấn át sự im lặng đáng sợ của đống đổ nát, hoen gỉ.
Có 2 đỉnh ống khói bê tông được đắp thêm thông điệp ghi lại dấu ấn một thời, cho thấy tuổi đời dài lâu của chúng.
Kin Kỳ không tìm ra các thông điệp khác trên các ống khói còn lại.
Phần mái với các mảnh ngói rơi rụng và những thanh xà thép gỉ sét nặng nề, cũng ẽo oằn đung đưa trong gió, rất nguy hiểm cho người tiếp cận. Còn phía dưới là các đường hình ống, có lẽ là cống xả phế thải công nghiệp sau quá trình sản xuất.
Đi vòng qua mặt sau của dãy tháp lò, bờ thành bê tông vẫn bao quanh kín, tuyệt nhiên không có lối vào. Hơn nữa, với sự góp sức bảo vệ nghiêm ngặt từ thảm thực vật um tùm, khiến mình chấm dứt quyết định xâm nhập dãy tháp lò này, chấp nhận đứng xa từ bên ngoài trọn mắt ngắm nhìn vẻ đẹp của sự mục nát!
Nhà kho
Khu vực kho lưu trữ, bảo quản nguyên liệu, thành phẩm từ hoạt động sản xuất xi măng và vôi. Nay cỏ cây um tùm hưởng lợi từ không gian trống trải rộng rãi.
Nhà kho có nhiều cửa, mỗi cửa được đánh một số. Các cửa không có dốc lên mà là một bậc thềm cao, chắc chắn là để ngang tầm đưa hàng ra vào trực tiếp từ thùng xe vận tải.
Vì là nhà kho bảo quản hàng hóa, nên chất lượng các cột trụ, xà ngang thép, hay cả mái tôn lợp, kết cấu sàn vẫn còn khá chắn chắn, ổn định hơn nhiều so với mức độ hư hao ở các khu vực khác.
Những khẩu hiệu an toàn lao động, chú ý hỏa hoạn được treo chăng khắp nơi, cho thấy đây là khu vực rất nhạy cảm, có giá trị rất cao cần được bảo vệ nghiêm ngặt.
Bãi vận chuyển
Bãi vận chuyển nhà máy xi măng Long Thọ từng là nơi nhộn nhịp và sầm uất những chuyến xe nối đuôi nhau ra vào lấy hàng. Nhưng giờ đây chỉ còn là bóng ma quá khứ. Những chiếc xe tải không còn, bãi trở nên mênh mông đáng sợ. Phần đường bị rơi vãi xi măng, qua mấy mùa mưa gió đã thành những ổ gà cao thấp, một vài tảng bê tông nứt nẻ, đôi chỗ ẩm đẫm rêu phong.
Những tấm tôn lợp rách nát như bộ răng người già, đã không còn bám trụ được lâu hơn nữa, bắt đầu phấp phớt đung đưa, rồi chồng chất lên nhau như những chiếc lá bằng hợp kim lạnh lẽo, chết chóc.
Không có tiếng động nào trong không khí ngoài tiếng gió thổi qua những khe hở tường nứt. Mùi ẩm mốc và hoen gỉ tuy chỉ thoang thoảng, nhưng có ở khắp nơi, bóp nghẹt không khí thành ngột ngạt, dù không gian vẫn lồng lộng gió lùa.
Một tấm áp phích an toàn lao động đã làm tròn bổn phận của nó. Những người từng thấy nó, hy vọng đều đang hạnh phúc.
Phía ngoài bãi vận chuyển có một chốt trực điều phối vận tải. Trong chốt này vẫn còn chút dấu tích con người đã bỏ sót lại.
Những số liên hệ này có lẽ sẽ tiếp tục theo Long Thọ về với nhà máy mới. Nhưng mẩu giấy này thì không may mắn như vậy.
Đường hầm
Trong khuôn viên công trình Nhà máy xi măng Long Thọ, Kin Kỳ có thấy một vài ô vuông nước như thế này, có cả bậc thang lên xuống. Ban đầu cứ tưởng hồ bơi hay hố trữ nước chữa cháy gì đó, khi nhìn kỹ một phần hở lối thông mới biết đây là lối xuống đường hầm. Sau khi hạ giải công trình, người ta lấy các phần xi măng do chính nhà máy sản xuất ra để lấp lại.
?
Kin Kỳ không suy đoán được đây là khu vực gì, chỉ thấy một dãy tường bao có các ô cửa sổ. Trên mỗi ô là các khẩu lệnh động viên, thúc đẩy lao động tốt.
Nhà cơ quan
Sân trước với những công trình cảnh quan thú vị, như chốt bảo vệ, khu bàn ghế tròn bằng đá quây quần... Tất cả ngập chìm trong lớp lá khô mục rất dày, đã lâu lắm không còn cái gì để bảo vệ, không còn lý do nào để người ta quây quần nữa rồi nhỉ?
Sân sau không tránh khỏi sự xâm thực của thảm thực vật tươi xanh, hàng trăm dây lá hoang dại đã phủ kín những bậc thang lên xuống, hay những ô vọng cảnh vốn từng lộng gió, thành tấm rém, tấm bình phong lãnh đạm che kín công trình, khiến cho không gian trở nên ẩm thấp, u ám hơn.
Bên trong một phòng cơ quan rộng rãi, nhiều khe cửa thông gió. Rêu cỏ đã xanh mầm trên mặt sàn bụi đất,. La phông trần nhà trĩu nặng sau mấy mùa mưa, nay chùng xuống như một quả nặng lơ lửng trên đầu. Trong không gian này, Kin Kỳ có chú ý đến các bao bố đựng xi măng đang được gói cuộn thành những tệp, vứt lăn lốc trên nền đất.
Trong một căn phòng tối tăm ẩm thấp của khu nhà cơ quan, những đồ vật thờ cúng bí ẩn được giấu kín, thể hiện tín ngưỡng người Việt nói chung và văn hóa Huế nói riêng. Xung quanh đầy ắp những mảnh đổ vỡ sắc lẹm, nguyền rủa cho ai dám xâm phạm sẽ phải trả giá bằng máu. Giữa những viên gạch, một loài nấm mốc nào đó trắng như bông đang phát triển mạnh mẽ.

Kề sát dãy nhà cơ quan lặng lẽ là một căn phòng rộng, nơi từng chứa đựng những niềm vui và trách nhiệm sản xuất.
Căn phòng đã được dọn dẹp trống trơn, nhưng không thể xóa sạch dấu vết quá khứ: một tấm giấy khen bạc màu treo trên tường, và một cái quần dài ai đó vứt quên trên móc cửa.
Dãy lò nung hiện đại
Đây là trái tim sản xuất của nhà máy xi măng Long Thọ hiện đại trước khi di dời. Dãy lò đã từng hoạt động bền bỉ ngày đêm để phục vụ nhu cầu vật liệu xây dựng của xã hội.
Nhìn từ bên ngoài, dãy lò sau khi tháo hết các thiết bị quan trọng chỉ còn lại bộ khung công trình xơ xác, thiếu sức sống.
Những tấm tôn lành lặn đã được tận dụng đem theo về nhà máy mới, phần còn lại phải chịu cảnh hao rỉ dần theo năm tháng, phát phơ từng ngày dưới gió mưa.
Góc nhìn từ bên trong, "nhà không nóc" nghĩa là từ lúc này, công trình hoàn toàn bị để phó mặc cho thiên nhiên gặm nhấm từng phút giây.




























































































